SÀNG LỌC PHÁT HIỆN SỚM UNG THƯ VÚ

09/01/2026 61 Kiến Thức Y Khoa

                                           BS.CK1 Nguyễn Bích Thuỳ
          Ung thư vú là bệnh ung thư phổ biến nhất và là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong do ung thư ở phụ nữ trên toàn thế giới. Tại Việt Nam, tỷ lệ mắc mới ung thư vú có xu hướng ngày càng gia tăng, đặc biệt ở nhóm phụ nữ trẻ tuổi. Mặc dù y học đã có nhiều tiến bộ trong chẩn đoán và điều trị, nhưng việc phát hiện bệnh ở giai đoạn muộn vẫn khiến khả năng điều trị gặp nhiều khó khăn, làm giảm đáng kể thời gian sống thêm và chất lượng sống của bệnh nhân.
          Sàng lọc phát hiện sớm là cách đánh giá tình trạng sức khỏe của mỗi cá thể hay cộng đồng, nhằm phát hiện ung thư tiềm ẩn hay tổn thương tiền ung thư để điều trị khỏi. Ung thư vú là bệnh có thể sàng lọc phát hiện sớm trong cộng đồng vì hội đủ các điều kiện lý tưởng cho một chương trình sàng lọc hiệu quả theo tiêu chuẩn của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO). Ung thư vú có giai đoạn tiền lâm sàng kéo dài trong nhiều năm, phương pháp sàng lọc đơn giản, giá thành không cao, ít gây phiền toái cho người bệnh, độ nhạy và độ đặc hiệu khá cao. Việc sàng lọc phát hiện sớm ung thư vú không những giúp phòng bệnh trong cộng đồng, tăng khả năng điều trị khỏi, giảm tỷ lệ tử vong do ung thư vú, nâng cao chất lượng cuộc sống mà còn tiết kiệm ngân sách và nguồn lực trong điều trị.
          1. Các yếu tố nguy cơ ung thư vú
          1.1. Yếu tố liên quan di truyền
          - Gen
          - Gia đình: Một phụ nữ có mẹ hoặc chị, em gái hoặc con gái bị UTV thì có nguy cơ bị bệnh này cao gấp 2-3 lần so với các phụ nữ khác
          - Chủng tộc/sắc tộc.
          1.2. Yếu tố bản thân
          - Tuổi
          - Tiền sử cá nhân mắc ung thư vú
          - Tiền sử bị các bệnh tại vú
          - Mật độ tuyến vú
          1.3. Yếu tố nội tiết
          - Tuổi bắt đầu có kinh sớm làm tế bào tuyến vú sớm tiếp xúc estrogen.
          - Tuổi mãn kinh muộn hoặc đã mãn kinh nhưng dùng nội tiết thay thế có chứa estrogen cũng làm tăng nguy cơ UTV.
          - Những phụ nữ không sinh con có nguy cơ cao bị UTV gấp 1,4 lần phụ nữ có sinh con. 
          - Không cho con bú cũng là một yếu tố nguy cơ.
          1.4. Yếu tố lối sống
          - Ít vận động
          - Uống rượu và hút thuốc lá
          - Béo phì
          1.5. Yếu tố vật lý, hoá học
          Tiền sử tiếp xúc với tia phóng xạ
          Tiền sử tiếp xúc với một số chất hoá học
          2. Phân nhóm nguy cơ:
          2.1. Nguy cơ trung bình
          Là những phụ nữ không có yếu tố nguy cơ cao nào trong mục Nguy cơ cao.
          2.2. Nguy cơ cao
          Phụ nữ có một trong các yếu tố sau được xếp có nguy cơ cao:
          - Trong gia đình có ít nhất một người quan hệ huyết thống bậc 1 (mẹ, chị/em gái hoặc con gái) mắc UTV.
          - Mang đột biến gen làm tăng nguy cơ UTV, ví dụ: BRCA1/2, PTEN, TP53, CDH1, PALB2, STK11.
          - Tiền sử mắc UTV.
          - Có tổn thương ung thư biểu mô tiểu thùy tại chỗ hoặc quá sản không điển hình.
          - Có tiền sử xạ trị vùng ngực ở độ tuổi 10 đến 30.
          Ngoài ra, có thể tính nguy cơ ung thư vú xâm lấn trong 5 năm và suốt đời của một người phụ nữ theo mô hình Gail. Theo cách tính của mô hình này, phụ nữ có nguy cơ trong 5 năm ≥1,7% hoặc nguy cơ suốt đời ≥20% được coi là có nguy cơ cao. Mô hình Gail đã được thử nghiệm trên một lượng lớn phụ nữ da trắng và đã được chứng minh là cung cấp ước tính chính xác về nguy cơ ung thư vú.
          3. Tự khám vú
                    Tự khám vú là phương pháp tự kiểm tra vú để phát hiện sự thay đổi hoặc bất thường ở vú bằng cách quan sát (trực quan) và sở nắn (cảm nhận) vú và các vùng xung quanh để tìm các khối u, tình trạng dày lên hoặc các thay đổi khác.
          3.1. Kỹ thuật tự khám vú
          Khuyến cáo tự khám vú hàng tháng sau sạch kinh 5 ngày đối với mọi phụ nữ từ 25 tuổi trở lên. Các bước tiến hành theo thứ tự như sau:
Chuẩn bị: Cần cởi bỏ áo, nơi tiến hành tự khám vú có thể ở phòng ngủ hoặc phòng tắm, có đầy đủ ánh sáng và có gương soi, có thể ngồi trên ghế hoặc đứng miễn là thoải mái.
          3.1.1. Tự khám vú khi đứng
          Quan sát:
          - Xuôi tay, quan sát xem có các thay đổi ở vú như u cục, dầy lên, lõm da hoặc thay đổi mầu sắc da, các vết loét,...
          - Đưa tay ra sau gáy, sau đó quan sát lại.
          - Chống tay lên hông làm cử động cơ ngực lên xuống bằng động tác nâng vai lên hay hạ vai xuống. Động tác này làm cho các thay đổi nếu có sẽ rõ hơn.
          - Ấn nhẹ quầng vú xem có dịch chảy ra hay không.
          Sở nắn:
          - Đưa tay phải ra sau gáy. Dùng tay trái sở nắn vú phải, 4 ngón tay đặt sát vào nhau thành một mặt phẳng, ép đều đặn lên các vùng khác nhau của tuyến vú vào thành ngực theo hướng vòng xoáy ốc từ đầu vú trở ra ngoài, hoặc theo hướng nan hoa đi từ núm vú ra ngoại vi và ngược lại.
          - Kiểm tra từng vùng của vú cả về phía hố nách.
          - Làm tương tự với vú bên trái.
          3.1.2. Tự khám vú khi nằm:
          - Nằm ngửa thoải mái.
          - Đặt một gối mỏng ở dưới lưng bên trái.
          - Lặp quá trình khám như khi đứng ở buồng tắm.
          - Chuyển gối sang dưới lưng bên phải, khám vú và nách phải.
https://files.thuvienphapluat.vn/doc2htm/00685061_files/image002.jpg https://files.thuvienphapluat.vn/doc2htm/00685061_files/image003.jpg
Khám khi tắm Quan sát trước gương
 
https://files.thuvienphapluat.vn/doc2htm/00685061_files/image004.jpg
Đứng và ép nhẹ ngón tay lên vú, đưa theo vòng tròn
https://files.thuvienphapluat.vn/doc2htm/00685061_files/image005.jpg
Khám khi nằm
https://files.thuvienphapluat.vn/doc2htm/00685061_files/image006.jpg
Nắn nhẹ quầng vú xem có dịch chảy
          3.2. Các triệu chứng báo hiệu ung thư vú
         
- Sở thấy khối u vú.

          - Một bên vú dày chắc hơn bên kia.
          - Một bên vú to lên.
          - Một bên vú xệ xuống bất thường.
          - Da vùng vú bị lồi lõm, co kéo bất thường.
          - Núm vú tụt.
          - Thay đổi màu sắc trên da của vú.
          - Hạch nách hoặc hố thượng đòn to.
          - Chảy dịch một bên vú.
          - Đau hoặc đỏ vú.
Các biểu hiện trên đây có thể của các bệnh lành tính hoặc ác tính của vú nhưng cần khuyến cáo để phụ nữ trong cộng đồng đi khám kịp thời.
          4. Khám lâm sàng:
          - Phát hiện bất thường tại vú khi tự khám vú tại nhà.
          - Phụ nữ nguy cơ trung bình khám lâm sàng 1-3 năm/lần từ 25 đến 39 tuổi, 1 năm/lần từ 40 tuổi.
          - Phụ nữ nguy cơ cao khám lâm sàng 1 năm/lần từ 25 tuổi.
          5. Lịch sàng lọc:
          5.1. Phụ nữ nguy cơ trung bình
          - Từ 25 đến 39 tuổi: Tự khám vú hàng tháng và khám lâm sàng 1-3 năm/lần.
          - Từ 40 -70 tuổi: Sàng lọc 1 năm/lần gồm khám lâm sàng, chụp X-quang tuyến vú, kết hợp siêu âm với phụ nữ có mô vú đặc.
          - Trên 70 tuổi: dừng sàng lọc khi tuổi thọ kỳ vọng dưới 10 năm hoặc phụ nữ mắc các vấn đề về sức khoẻ không thể thực hiện được các biện pháp điều trị ung thư vú.
          5.2. Phụ nữ nguy cơ cao
          Bắt đầu sàng lọc từ 25 tuổi với lịch sàng lọc 1 năm/lần, khám lâm sàng, chụp X-quang vú, có thể chụp cộng hưởng từ vú (xem chi tiết tại Sơ đồ 1).
          6.Dự phòng ung thư vú:
          Dự phòng (bước 1) ung thư vú là biện pháp phòng bệnh được thực hiện trước khi bệnh xảy ra, nhằm ngăn ngừa sự khởi phát của bệnh bằng các loại bỏ hoặc giảm yếu tố nguy cơ. Với những yếu tố nguy cơ đã nêu tại mục Các yếu tố nguy cơ ung thư vú mà các nghiên cứu dịch tễ học tìm ra, khả năng phòng bệnh bước 1 đối với UTV còn khá hạn chế. Có nhiều yếu tố không thể thay đổi như tuổi, có kinh sớm và mãn kinh muộn hoặc các yếu tố khó thay đổi như phụ nữ độc thân, có thai muộn góp phần quan trọng vào sinh bệnh trong khi những yếu tố về lối sống, sinh hoạt có thể thay đổi được lại không phải những yếu tố nguy cơ cao. Tuy nhiên, chúng ta cần cố gắng phòng ngừa bệnh với khả năng có thể như:
          - Tránh hoặc hạn chế uống rượu, hút thuốc lá.
          - Thực hành nuôi con bằng sữa mẹ.
          - Tránh béo phì, duy trì chế độ ăn uống cân bằng, tăng cường tập luyện thể lực, duy trì mức cân nặng hợp lý không những có thể làm giảm nguy cơ UTV mà còn giúp phòng ngừa nhiều bệnh khác.
          - Hạn chế sử dụng các thuốc nội tiết thay thế có chứa estrogen và progesteron.
          - Không nên sinh con đầu muộn hoặc không sinh con.
          - Các nghiên cứu đã cho thấy sử dụng thuốc ức chế aromatase ở phụ nữ đã mãn kinh hoặc tamoxifen ở phụ nữ chưa và đã mãn kinh có thể giúp giảm nguy cơ bị UTV. Tuy nhiên, tamoxifen liên quan với nguy cơ bị ung thư nội mạc tử cung, huyết khối, ra máu âm đạo, bốc hỏa và các triệu chứng của mãn kinh. Do vậy, lợi ích của tamoxifen chưa vượt trội được các nguy cơ của thuốc trên phụ nữ khỏe mạnh.
          - Phẫu thuật cắt tuyến vú làm giảm đáng kể nguy cơ UTV và là một lựa chọn thích hợp cho những người có nguy cơ cao (như mang gen BRCA1/2) và cần được người phụ nữ thảo luận rất kỹ với các chuyên gia tư vấn, bác sĩ phẫu thuật,... và gia đình trước khi quyết định.
          - Tăng cường truyền thông, giáo dục sức khoẻ cộng đồng để nâng cao nhận thức của người dân về tự khám vú và tầm quan trọng của sàng lọc UTV định kỳ.



 
Hotline Hotline
VBot
Bạn cần hỗ trợ gì?
Bác Sĩ Ảo eMed
VBot
Chào bạn, mình là Bác sĩ ảo AI của eMed!
Bạn có thể nhập triệu chứng bệnh mình sẽ tư vấn cho bạn!
Bạn có thể nhờ mình tìm bệnh viện để khám, thông tin thuốc!
Cũng có thể kiểm tra mã số thuế doanh nghiệp kinh doanh hợp pháp không!
Thông tin Bs eMed AI tư vấn chỉ mang tính chất tham khảo. Aisum.vn